Hàng hóa TG sáng 18/7/2018: Giá dầu tăng; vàng, cà phê, đường giảm - Thông tin giá cả xăng dầu

Trang chủ Tin kinh tế liên quan xăng dầu

Hàng hóa TG sáng 18/7/2018: Giá dầu tăng; vàng, cà phê, đường giảm

Trên thị trường thế giới phiên giao dịch 17/7/2018 (kết thúc vào rạng sáng 18/7 giờ VN), giá hầu hết các hàng hóa chủ chốt sụt giảm, ngoại trừ dầu mỏ.

Trên thị trường năng lượng, giá dầu thô hồi phục sau khi giảm hơn 4% ở phiên trước, do dự trữ giảm tại Mỹ và sản lượng tiếp tục hạn chế ở Venezuela và Libya. Kết thúc phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) giao tháng 8/2018 tăng 0,02 USD lên 68,08 USD/thùng; dầu Brent giao tháng 9/2018 tăng 0,32 USD lên 72,16 USD/thùng.

Phiên trước đó, giá dầu WTI và Brent đã giảm lần lượt 4,15% và 4,67% sau khi Mỹ cho biết sẽ xem xét một số miễn giảm đối với các lệnh trừng phạt Iran.

Cuối tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin cho hay Mỹ sẽ cân nhắc việc này để tránh làm gián đoạn thị trường dầu mỏ toàn cầu. Giá dầu đã giảm gần 10% trong tuần qua do các nhà máy xuất khẩu dầu thô ở Libya đã mở cửa trở lại đồng thời xuất khẩu từ các nước OPEC khác và Nga đã tăng lên.

Nguồn cung ở Venezuela sẽ bị hạn chế do hoạt động bảo trì trong vài tuần tới. Hai trong 4 nhà máy lọc dầu nghỉ bảo dưỡng có công suất lọc 700.000 thùng/ngày và được sử dụng để chế biến dầu nặng xuất khẩu. Bên cạnh sản lượng giảm của Venezuela, các thương nhân đang chú ý tới hàng tồn kho của Mỹ, dự kiến sẽ giảm 3,5 triệu thùng trong tuần tính đến ngày 13/7/2018, theo Reuters.

Goldman Sachs dự đoán giá dầu sẽ vẫn duy trì ở mức cao, dầu Brent trong khoảng 70-80 USD/thùng trong ngắn hạn.

Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giảm mạnh hơn 1% và rơi xuống mức thấp nhất của một năm, trong bối cảnh Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Jerome Powell vừa trước Quốc hội nước này.

Giá vàng giao ngay giảm 1,1% xuống 1.226,91 USD/ounce, trong phiên có lúc giá giảm xuống thấp nhất kể từ tháng 7/2017 là 1.225,58 USD/ounce. Tính từ đầu năm tới thời điểm hiện tại, giá của kim loại quý này đã giảm tới hơn 5%. Giá vàng Mỹ giao kỳ hạn tháng 8/2018 cũng sụt mất 1% (12,4 USD/ounce) xuống khép phiên ở mức 1.227,3 USD/ounce - mức thấp nhất kể từ ngày 13/7/2017 tới nay.

Tại buổi điều trần, Chủ tịch Fed đã đưa ra những nhận định khá lạc quan về “sức khỏe” kinh tế Mỹ. Các thị trường cho rằng Fed sẽ có thêm hai đợt nâng lãi suất nữa trong năm nay khi nền kinh tế Mỹ tiếp tục tăng trưởng.

Chỉ số đồng USD - được coi là thước đo "sức khỏe" của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác - phiên này tăng 0,42% lên mức 94,67 (điểm).

Giá vàng luôn nhạy cảm với những biến động của đồng USD, do một khi đồng bạc xanh mạnh lên sẽ khiến sức hấp dẫn của các tài sản “trú ẩn an toàn” như vàng giảm đáng kể.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) mới đây đã cảnh báo rằng nếu căng thẳng thương mại tiếp tục leo thang đi kèm với những động thái áp thuế của Mỹ, triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong trung hạn sẽ bị ảnh hưởng.

Những nhận định này được đưa ra trong bối cảnh nền kinh tế Trung Quốc trong quý II/2018 đã giảm tốc nhẹ, mặc dù Bắc Kinh nói rằng điều này sẽ không ảnh hưởng tới sự tăng trưởng chung của cả năm nay.

Theo nhà quản lý Richard Xu thuộc quỹ giao dịch vàng lớn nhất Trung Quốc HuaAn Gold, nếu nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc, hoạt động tiêu dùng hàng hóa trên toàn cầu cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đồng thời, điều này cũng sẽ khiến giá vàng suy giảm.

Nhu cầu tiêu thụ vàng tại Trung Quốc trong thời gian qua cũng khá yếu do những tranh chấp thương mại giữa nước này với Mỹ vẫn chưa được giải quyết, qua đó khiến đồng nội tệ yếu đi.

Về những kim loại quý khác, giá bạc giảm 0,9% xuống 15,6 USD/ounce, sau khi đã có lúc rơi xuống mức thấp nhất kể từ tháng 7/2017 là 15,51 USD/ounce; giá bạch kim cũng giảm 1,2% xuống 812 USD/ounce.

Trên thị trường sắt thép, giá thép xây dựng của Trung Quốc giảm trong ngày thứ hai liên tiếp do các số liệu cho thấy kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại trong quý 2/2018 và căng thẳng thương mại gia tăng với Mỹ. Giá thép cây giao sau tại Thượng Hải giảm 1,7% xuống mức thấp nhất kể từ ngày 12/7/2018 trước khi đóng cửa giảm 0,5% xuống 3.941 NDT(590,03USD)/tấn; thép giao ngay giảm 0,1% xuống 4.346,37 NDT/tấn. Quặng sắt giao tháng 9 trên sàn Thượng Hải tăng 0,1% lên 465 NDT/tấn. Cục thống kê Trung Quốc cho biết sản lượng thép thô hàng ngày của nước đạt kỷ lục là 2,67 triệu tấn trong tháng 6 do nhu cầu tiêu thụ mạnh, lợi nhuận cao bất chấp các biện pháp hạn chế để bảo vệ môi trường của nước này. Kinh tế Trung Quốc tăng với tốc độ chậm hơn trong quý 2/2018 do tác động chính sách hạn chế rủi ro nợ, trong khi thị trường bất động sản chậm lại cũng làm lu mờ triển vọng nhu cầu thép.

Trên thị trường nông sản, giá đường trắng giao tháng 10/2018 giảm 4 USD tương đương 1,2% xuống 326,30 USD/tấn; đường thô giao cùng kỳ hạn giảm 0,01 US cent tương đương 0,1% xuống 11,13 USD/lb. Giá chịu áp lực giảm bởi Ấn Độ - nước sản xuất đường lớn thứ 2 thế giới sẽ tăng sản lượng lên khoảng 35 đến 35,5 triệu tấn, theo Hiệp hội Mía đường nước này.

Cà phê arabica giao tháng 9/2018 giảm 1,05 US cent tương đương 0,96% xuống 1,0925 USD/lb, do tiền tệ của Brazil giảm giá. Robusta giao cùng kỳ hạn giảm 16 USD tương đương 1% xuống 1.654 USD/tấn.

Giá cao su kỳ hạn tại Tokyo tăng nhẹ vào cuối phiên giao dịch ngày 17/7/2018 do giá cao su tăng cao tại Thượng Hải, nhưng vẫn bị áp lực bởi dự trữ cao. Giao dịch hàng hóa kỳ hạn tại Tokyo giảm vào phiên sáng sau khi đạt mức cao 1 tuần vào đầu phiên giao dịch.Giá cao su giao dịch kỳ hạn tại Tokyo giao tháng 12/2018 tăng 0,2 yên (0,0018 USD) đạt trên173,1 yên/kg. Giá cao su dịch kỳ hạn tại Thượng Hải giao tháng 9/2018 tăng 30 NDT( 4,50 USD) lên mức 10.335 NDT/tấn. Giá cao su kỳ hạn tại Singapore giao tháng 8/2018 chốt phiên ở mức 131,6 cent Mỹ/kg, tăng 0,1 cent.

Với mặt hàng thịt lợn, xuất khẩu thịt và nội tạng lợn của Mỹ sang Trung Quốc đã giảm 1/3 trong tháng 4 và 5/2018 sau khi Trung Quốc áp thuế lần đầu tiên 25% vào các sản phẩm này của Mỹ trong tháng 4/2018. Tới 6/7/2018, Bắc Kinh đã đánh thêm thuế 25% nữa lên trị giá 34 tỷ USD hàng hóa.

Cuộc chiến thương mại Mỹ Trung đã làm cho các nhà chế biến thịt lợn Mỹ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trước kia, Trung Quốc và Hongkong ( Trung Quốc) là hai thị trường tiêu thụ thịt lợn và nội tạng số 1 của họ do giá cao hơn những nơi khác. Người Mỹ không ăn nội tạng lợn như tim, lưỡi, dạ dày, ruột và một số bộ phận khác trong khi các sản phẩm này là món ăn được ưa thích tại Trung Quốc, nhờ vậy lợi nhuận của các nhà xuất khẩu thịt lợn Mỹ thu được rất lớn. Nhưng bây giờ, các nhà chế biến thịt lợn của Mỹ đã không thể xuất sang Trung Quốc với hai loại thuế lên tới 50%. Lợi nhuận của các nhà chế biến thịt lợn Mỹ đã giảm xuống mức thấp nhất 3 năm trong tháng vừa qua. Cổ phiếu của tập đoàn WH đã giảm 28% từ đầu năm tới nay. Cổ phiếu của Tyson giảm 19% và của Seaboard giảm 13%.

Giá xuất khẩu nội tạng trung bình sang Trung Quốc năm 2017 là 76 cent/lb (0,45 kg), theo Hiệp hội xuất khẩu thịt của Hoa Kỳ. Nếu các nhà đóng gói không thể bán sang nơi khác mà bán tại Mỹ thì giá chỉ khoảng 18 cent/lb.Ngành thịt lợn Mỹ ước tính sẽ lỗ 860 triệu USD trong năm tới và các nhà chế biến sẽ chuyển số lỗ này sang nông dân bằng cách giảm giá mua lợn.

Về phía Trung Quốc, nước này đã chuyển sang nhập khẩu nhiều từ Châu Âu, nơi giá thịt lợn giao dịch ở mức thấp nhất ít nhất 2 năm qua. 

Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/- (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

67,76

-0,32

-0,47%

Dầu Brent

USD/thùng

71,84

-0,32

-0,44%

Dầu thô TOCOM

JPY/kl

48.600,00

+470,00

+0,98%

Khí thiên nhiên

USD/mBtu

2,74

+0,00

+0,15%

Xăng RBOB FUT

US cent/gallon

201,72

-0,89

-0,44%

Dầu đốt

US cent/gallon

206,12

-0,89

-0,43%

Dầu khí

USD/tấn

630,50

-1,75

-0,28%

Dầu lửa TOCOM

JPY/kl

66.740,00

+410,00

+0,62%

Vàng New York

USD/ounce

1.228,50

+1,20

+0,10%

Vàng TOCOM

JPY/g

4.453,00

-25,00

-0,56%

Bạc New York

USD/ounce

15,62

0,00

-0,01%

Bạc TOCOM

JPY/g

56,70

-0,40

-0,70%

Bạch kim giao ngay

USD/ounce

817,68

-0,06

-0,01%

Palladium giao ngay

USD/ounce

916,16

+1,59

+0,17%

Đồng New York

US cent/lb

275,35

+0,65

+0,24%

Đồng LME 3 tháng

USD/tấn

6.152,00

-40,00

-0,65%

Nhôm LME 3 tháng

USD/tấn

2.032,00

-23,00

-1,12%

Kẽm LME 3 tháng

USD/tấn

2.512,00

+38,00

+1,54%

Thiếc LME 3 tháng

USD/tấn

19.515,00

+15,00

+0,08%

Ngô

US cent/bushel

361,75

+2,00

+0,56%

Lúa mì CBOT

US cent/bushel

503,50

+5,75

+1,16%

Lúa mạch

US cent/bushel

236,75

+0,25

+0,11%

Gạo thô

USD/cwt

12,01

-0,04

-0,29%

Đậu tương

US cent/bushel

861,00

+5,75

+0,67%

Khô đậu tương

USD/tấn

327,70

+0,50

+0,15%

Dầu đậu tương

US cent/lb

28,20

+0,07

+0,25%

Hạt cải WCE

CAD/tấn

489,20

+0,90

+0,18%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2.395,00

-11,00

-0,46%

Cà phê Mỹ

US cent/lb

109,25

-1,05

-0,95%

Đường thô

US cent/lb

11,13

-0,01

-0,09%

Nước cam cô đặc đông lạnh

US cent/lb

171,30

+0,65

+0,38%

Bông

US cent/lb

88,31

-0,03

-0,03%

Lông cừu (SFE)

US cent/kg

--

--

--

Gỗ xẻ

USD/1000 board feet

514,90

-4,70

-0,90%

Cao su TOCOM

JPY/kg

174,50

+1,40

+0,81%

Ethanol CME

USD/gallon

1,41

+0,01

+0,57%

 

Nguồn tin: Vinanet.vn