Để sử dụng Xangdau.net, Vui lòng kích hoạt javascript trong trình duyệt của bạn.

To use Xangdau.net, Please enable JavaScript in your browser for better use of the website.

Loader

Trong khi năm 2022 là về khí đốt, thì cuộc khủng hoảng năng lượng năm nay lại là về dầu mỏ

Không phải tất cả các cuộc khủng hoảng năng lượng đều giống nhau, như hậu quả của cuộc chiến tranh Iran hiện nay cho thấy. Rủi ro đối với Úc cũng không giống nhau.

Cuộc chiến đã khiến 25% thương mại dầu mỏ đường biển toàn cầu và gần 20% thương mại khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) bị gián đoạn do việc đóng cửa eo biển Hormuz. Người tiêu dùng và doanh nghiệp Úc hiện đang rất lo ngại về giá xăng và dầu diesel. Tuy nhiên, khi Nga xâm lược Ukraine bốn năm trước, mối quan tâm chính là về giá khí đốt và điện.

Việc đóng cửa điểm nghẽn chính của thế giới đối với dầu mỏ và LNG đã có tác động ít hơn đến giá khí đốt và điện toàn cầu (do mối liên hệ chặt chẽ giữa hai yếu tố này ở nhiều thị trường). Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) chiếm 1/5 công suất LNG toàn cầu (khoảng 119 tỷ mét khối), nhưng con số này chỉ chiếm khoảng 3% nguồn cung khí đốt toàn cầu vì LNG chỉ chiếm 15% (khoảng 670 tỷ mét khối) tổng lượng tiêu thụ khí đốt toàn cầu (4.290 tỷ mét khối).

Để so sánh, nguồn cung khí đốt của Nga cho châu Âu trước chiến tranh vào năm 2021 là khoảng 155 tỷ mét khối, tương đương 45% lượng khí đốt nhập khẩu của EU. Cuộc xâm lược nước láng giềng của Nga vào tháng 2 năm 2022 đã khiến EU chuyển hướng khỏi khí đốt đường ống của Nga và do đó làm tăng nhu cầu về LNG.

Hơn nữa, có những giải pháp thay thế cho LNG, ít nhất là trong việc sản xuất điện, hiện tại hoặc trong tương lai gần. Lượng khí đốt được Qatar và UAE vận chuyển có thể tạo ra tới 1.250 terawatt-giờ (TWh) điện (không tính đến tổn thất năng lượng). Theo chuyên gia tư vấn năng lượng Michael Liebreich, lượng điện này có thể được thay thế bằng các nguồn năng lượng khác như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và pin trong khoảng chín tháng. Việc lắp đặt các tấm pin quang điện mặt trời (PV) đã bổ sung thêm 636 TWh vào công suất điện toàn cầu vào năm 2025, được hỗ trợ bởi việc bổ sung thêm 205 TWh điện gió. Liebreich lập luận rằng việc lắp đặt điện gió và điện mặt trời có thể được đẩy nhanh dựa trên năng lực sản xuất hiện có.

“Nếu bạn tăng gấp đôi tốc độ lắp đặt điện gió và điện mặt trời, điều mà bạn hoàn toàn có thể làm được – ngành công nghiệp này có đủ năng lực – và bạn làm điều đó trong chín tháng, thì thực tế nó sẽ… thay thế lượng LNG của Qatar và UAE đi qua eo biển Hormuz,” Liebreich nói trên podcast Cleaning Up.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cũng dự báo tỷ lệ năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân trong sản xuất điện sẽ tăng lên trong phần còn lại của thập kỷ này. IEA dự báo năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân sẽ tạo ra 50% tổng lượng điện toàn cầu vào năm 2030, tăng từ 42% vào năm ngoái.

Ngược lại với khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), việc thiếu hụt 20 triệu thùng dầu mỗi ngày từ Trung Đông không thể được bù đắp bằng các giải pháp thay thế, chẳng hạn như xe điện (EV) hoặc nhiên liệu sinh học, trong cùng thời kỳ đó.

“Rất khó để thay thế 20% lượng dầu toàn cầu, tương đương 20 triệu thùng mỗi ngày, chỉ bằng xe điện. [Việc đó] sẽ mất rất nhiều thời gian, nhiều năm, hơn một thập kỷ”, ông Liebreich nói.

Điều này đáng lo ngại đối với Úc vì nước này nhập khẩu khoảng 90% nhu cầu dầu mỏ, do sản lượng dầu trong nước giảm và nhu cầu nhiên liệu tinh chế ngày càng tăng.

Úc hiện đang trên đà sản xuất lượng dầu nội địa thấp nhất kể từ cuối những năm 1960. Điều này là do địa chất của Úc chứ không phải do bất kỳ hạn chế nào đối với việc khoan dầu. Cơ quan Khoa học Địa chất Úc ước tính rằng Úc chỉ có 229 triệu thùng dầu thô dự trữ đã được chứng minh và có thể khai thác, tương đương với khoảng bảy tháng tiêu thụ. Tiềm năng dầu mỏ của rãnh Taroom ở Queensland đã được đề cập nhiều, nhưng cho đến nay, kết quả khoan ban đầu cho thấy có khí đốt, condensate và dầu thô nhẹ. Cho đến nay, các kết quả thăm dò được công bố vẫn chưa đủ để xác định quy mô của bất kỳ trữ lượng hydrocarbon tiềm năng nào.

Úc cũng có lượng dự trữ dầu thấp nhất trong tất cả các quốc gia thành viên IEA. IEA yêu cầu các quốc gia thành viên phải dự trữ lượng dầu tương đương với 90 ngày dựa trên mức bù đắp ròng cho nhập khẩu. Vào đầu cuộc khủng hoảng Iran, lượng dự trữ của Úc chỉ tương đương với nguồn cung cấp trong hơn một tháng.

Sự phụ thuộc của Úc vào nhập khẩu dầu mỏ, kết hợp với lượng dự trữ tương đối thấp, khiến nước này dễ bị tổn thương trước những cú sốc về nguồn cung dầu toàn cầu. Úc đã ứng phó với cuộc khủng hoảng hiện tại thông qua nỗ lực ngoại giao năng lượng nhằm trao đổi khí đốt của Úc lấy các sản phẩm dầu mỏ với các đối tác thương mại châu Á, những nơi có các nhà máy lọc dầu lớn.

Úc cũng đã ứng phó với tình trạng dự trữ dầu thấp bằng cách cam kết chi 10 tỷ đô la Úc để tăng lượng dự trữ. Điều này đánh dấu một sự thay đổi đáng kể trong chính sách năng lượng của Úc, từ hiệu quả kinh tế sang an ninh năng lượng, vì việc tăng khối lượng lưu trữ sẽ làm tăng chi phí cho người tiêu dùng. Trước khủng hoảng, Úc có một số giá nhiên liệu thấp nhất trong số các quốc gia thành viên IEA, ngoại trừ Mỹ và Canada, những nước xuất khẩu dầu lớn.

Tuy nhiên, Úc có thể không phải là quốc gia duy nhất có ý định tăng dung lượng lưu trữ dầu, điều đó có nghĩa là nhu cầu dầu để lấp đầy kho dự trữ có khả năng làm tăng nhu cầu dầu nói chung. Hơn nữa, việc xây dựng các nhà máy lọc dầu mới khó có thể giải quyết được rủi ro an ninh dầu mỏ ở Úc vì chúng ta vẫn cần nhập khẩu dầu để tinh chế thành các sản phẩm.

Một trong những cơ hội tốt nhất để Úc tăng cường an ninh năng lượng là đẩy nhanh việc áp dụng xe điện. Điều này sẽ làm giảm nhu cầu dầu, giảm nhu cầu nhập khẩu và giúp Úc đáp ứng hướng dẫn dự trữ 90 ngày của IEA.

ĐỌC THÊM