Nhập khẩu dầu của Trung Quốc giảm và xuất khẩu của Mỹ tăng mang lại sự nhẹ nhõm cho thị trường dầu mỏ
Tháng vừa qua lại là một tháng đầy biến động trên thị trường năng lượng, với giá dầu bị biến động mạnh bởi các tin tức liên quan đến Iran. Sự lạc quan về một thỏa thuận hòa bình sắp xảy ra đã bị dập tắt sau khi Tổng thống Trump bác bỏ kế hoạch hòa bình phản biện của Iran. Và kết quả là, mọi hy vọng về việc nhanh chóng nối lại dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz cũng tan biến, khiến giá dầu Brent giao dịch trở lại trên mức 100 USD/thùng.
Tuy nhiên, với việc thị trường dầu mỏ đang đối mặt với sự gián đoạn nguồn cung khoảng 13 triệu thùng/ngày, người ta có thể ngạc nhiên khi thấy giá dầu không tăng cao hơn nhiều. Vẫn còn một bộ phận thị trường bám víu vào sự lạc quan rằng dòng chảy năng lượng có thể bắt đầu phục hồi. Tuy nhiên, cũng có một số yếu tố cơ bản đã giúp ích. Nhập khẩu dầu của Trung Quốc đã giảm đáng kể, trong khi xuất khẩu dầu của Mỹ liên tục đạt mức kỷ lục trong tháng 4, điều này đã giúp giảm bớt áp lực tăng giá trên thị trường. Nhưng đây chỉ là những giải pháp tạm thời. Trung Quốc sẽ dựa vào lượng hàng tồn kho khi nhập khẩu giảm, trong khi đó, sự tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ cũng được thúc đẩy bởi lượng hàng tồn kho chứ không phải sự tăng trưởng nguồn cung.
Một yếu tố khác đã kiềm chế thị trường là chúng ta đã bắt đầu thấy sự sụt giảm nhu cầu trên thị trường dầu mỏ. Giá dầu thô không cần phải tăng cao như nhiều người tưởng tượng để dẫn đến sự sụt giảm nhu cầu này. Điều này phần lớn có thể là do sức mạnh tương đối của giá các sản phẩm lọc dầu (xăng, dầu diesel, nhiên liệu máy bay), được phản ánh qua sự mở rộng biên lợi nhuận của các sản phẩm lọc dầu. Sức mạnh đáng kể của giá các sản phẩm lọc dầu có nghĩa là giá dầu thô không cần phải tăng cao để đảm bảo sự sụt giảm nhu cầu.
Mặc dù vẫn còn nhiều điều không chắc chắn về diễn biến của tình hình, chúng tôi giả định sẽ có sự phục hồi nhất định trong dòng chảy dầu trong phần còn lại của quý 2, cho phép dòng chảy gần như bình thường trong quý 3. Theo kịch bản này, giá dầu Brent trung bình ở mức 104 USD/thùng trong quý 2 năm 2026 và 92 USD/thùng trong quý 4 năm 2026. Tuy nhiên, rõ ràng là mỗi ngày trôi qua mà không có giải pháp nào được đưa ra sẽ đẩy thị trường đến một kịch bản nguy hiểm hơn nhiều.
Việc giảm nhu cầu đang kiềm chế thị trường khí đốt… hiện tại
Trong khi giá khí đốt ở châu Âu đang giao dịch trên mức trước chiến tranh Iran, chúng đã giảm đáng kể so với mức đỉnh điểm sau khi chiến tranh bắt đầu. Chúng tôi tin rằng thị trường khí đốt đang định giá thấp quy mô của sự gián đoạn nguồn cung. Thị trường khí đốt có ít khả năng chống chọi với những cú sốc nguồn cung, trong khi có rất ít tuyến đường thay thế cho khí LNG vùng Vịnh Ba Tư vận chuyển đến điểm đến, ngoài việc đi qua eo biển Hormuz. Mặc dù dữ liệu theo dõi tàu cho thấy Qatar đã vận chuyển hai lô hàng LNG đầu tiên kể từ khi chiến tranh bắt đầu, nhưng con số này vẫn còn thấp hơn nhiều so với dòng chảy bình thường.
Không có đủ nguồn cung dự trữ trên thị trường LNG để bù đắp những tổn thất nguồn cung này, vì vậy thị trường sẽ phải dựa vào việc giảm tồn kho và giảm nhu cầu để cố gắng cân bằng, đó là những gì chúng ta đã thấy. Tại châu Á, việc chuyển đổi từ khí đốt sang than đá đang diễn ra trong lĩnh vực điện lực, trong khi nhu cầu công nghiệp cũng đang chịu áp lực. Trong khi đó, việc dựa vào hàng tồn kho có nghĩa là người mua sẽ phải quay lại thị trường ở giai đoạn sau để bổ sung hàng. Rủi ro lớn nhất đối với thị trường là nếu việc bổ sung kho dự trữ này phải diễn ra trước khi dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz được nối lại.
Nếu chúng ta thấy người mua châu Á tham gia vào thị trường LNG giao ngay để bổ sung kho dự trữ/bù đắp khối lượng hợp đồng bị gián đoạn, điều này sẽ làm tăng cạnh tranh giữa châu Âu và châu Á đối với các lô hàng, dẫn đến giá tăng cao.
Kho chứa khí đốt ở EU tương đối khan hiếm, chỉ đầy 35% so với mức trung bình 5 năm là 48%. Điều này sẽ khiến việc bổ sung kho chứa trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là khi đường cong kỳ hạn TTF – hiện đang ở trạng thái nghịch đảo – không khuyến khích việc dự trữ. Sự linh hoạt hơn trong các mục tiêu dự trữ của EU giúp giảm bớt áp lực lên thị trường khi bước vào mùa đông 2026/27. Tuy nhiên, việc bước vào mùa đông với kho chứa đầy 75% (mức tối thiểu được cho phép trong điều kiện khắc nghiệt) sẽ khiến thị trường châu Âu dễ bị tổn thương hơn trong suốt mùa đông và có nguy cơ giá tăng cao.
Bài viết của ING
Nguồn tin: Xangdau.net






















