Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran được dự đoán sẽ gây ra cuộc khủng hoảng năng lượng tồi tệ nhất trong lịch sử.
Khoảng 20% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và 25% nguồn cung dầu vận chuyển bằng đường biển của thế giới bị ảnh hưởng. Tác động của nó lẽ ra phải vượt xa các cú sốc dầu mỏ của những năm 1970.
Nhưng bất chấp sự hoảng loạn ban đầu, cuộc khủng hoảng đã không lan rộng như dự đoán. Giá dầu đã giảm, ngay cả khi eo biển Hormuz chưa được mở cửa hoàn toàn.
Tại sao? Bốn lý do. Thứ nhất, thị trường dầu mỏ đang hoạt động như thể cuộc xung đột sẽ sớm kết thúc. Thứ hai, các nhà sản xuất dầu khác đã nắm bắt cơ hội. Thứ ba, nhu cầu về dầu đã giảm. Và thứ tư, các quốc gia đã tiêu thụ hết trữ lượng dầu của mình.
Cuộc khủng hoảng đã kết thúc chưa? Chưa. Trữ lượng dầu ở nhiều quốc gia hiện đang cạn kiệt. Mỹ, quốc gia tiêu thụ dầu hàng đầu thế giới, sắp bước vào mùa cao điểm lái xe từ cuối tuần này. Nếu cuộc chiến với Iran kéo dài, như dường như rất có khả năng xảy ra, thì một cuộc khủng hoảng toàn cầu thực sự sẽ khó tránh khỏi.
1: Thị trường dầu mỏ trầm lắng
Sự tăng giá khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu năm nay dường như chỉ là nhất thời so với sự tăng vọt sau khi Nga xâm lược Ukraine năm 2022.
Tác động lên dầu mỏ còn rõ rệt hơn. Giá dầu thô Brent kỳ hạn – chuẩn mực dầu mỏ toàn cầu – đã tăng 72% kể từ tháng 1, từ 61 đô la Mỹ lên khoảng 105 đô la Mỹ một thùng tính đến ngày 21 tháng 5.
Đó là một mức tăng mạnh. Nhưng nó vẫn còn rất xa so với mức 200 đô la Mỹ mà một số nhà phân tích dự báo trong những ngày đầu chiến tranh. Các nhà phân tích khác dự đoán giá dầu sẽ tiến gần đến mức kỷ lục khoảng 147 đô la Mỹ một thùng đạt được vào năm 2008, vài tháng trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu. Trên thực tế, giá dầu vẫn chưa vượt qua mức đỉnh 120 đô la Mỹ/thùng đạt được vào năm 2022.
Các nhà giao dịch dầu mỏ dường như đang hành động với hy vọng cuộc xung đột sẽ sớm kết thúc và các chuyến hàng dầu mỏ bình thường sẽ được nối lại.
Trước chiến tranh, thế giới có lượng dầu dư thừa lớn. Công nghệ khai thác dầu khí bằng phương pháp thủy lực đã biến Mỹ từ nước nhập khẩu dầu lớn thành nhà sản xuất lớn nhất thế giới và biến Argentina thành nước xuất khẩu dầu.
Trong mười tháng đầu năm 2025, lượng dự trữ dầu toàn cầu tăng trung bình 1,2 triệu thùng mỗi ngày. Trung Quốc gần như chịu trách nhiệm hoàn toàn, bổ sung khoảng 1,1 triệu thùng mỗi ngày vào kho dự trữ của mình.
Trước khi chiến tranh bắt đầu vào tháng Hai, cả Iran và Nga đều đang tìm kiếm người mua cho lượng dầu bị cấm vận của họ.
2: Các nhà sản xuất dầu khác nhau đã tăng cường xuất khẩu
Các nhà sản xuất dầu ở Trung Đông khai thác khoảng 30% lượng dầu của thế giới. Chiến tranh đã làm giảm một phần nguồn cung này.
Để đối phó, các quốc gia sản xuất dầu khác đã tăng cường xuất khẩu.
Các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với dầu mỏ của Nga đã tạm thời được dỡ bỏ, làm tăng nguồn cung dầu toàn cầu. Nhưng các cơ sở dầu mỏ của Nga đã liên tục bị máy bay không người lái của Ukraine tấn công trong năm nay.
Tại châu Mỹ, Mỹ, Argentina, Brazil và Guyana đều đã tăng sản lượng để phần nào bù đắp khoảng thiếu hụt nguồn cung.
3: Nhu cầu dầu mỏ đã giảm
Nhiều quốc gia đang nỗ lực giảm nhu cầu dầu mỏ. Nhu cầu dầu mỏ toàn cầu dự kiến sẽ giảm hơn 2% trong quý này. Sự sụt giảm chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển tại châu Á, khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào dầu mỏ Trung Đông.
Bên cạnh sự sụt giảm tự nhiên do giá cao, 76 quốc gia đã đưa ra các biện pháp khẩn cấp để cắt giảm nhu cầu dầu mỏ hơn nữa.
Úc đã sử dụng ngoại giao năng lượng, đảm bảo nguồn cung nhiên liệu dồi dào hơn thông qua các thỏa thuận bán khí đốt và than đá. Những nỗ lực này đã củng cố lượng dự trữ dầu diesel, xăng và nhiên liệu máy bay.
Đến nay, sự sụt giảm duy nhất về nhu cầu ở Úc là nhiên liệu máy bay. Trong tháng 3, nhu cầu đã giảm 18% so với tháng trước. Trong khi đó, lượng sử dụng dầu diesel thực tế lại tăng 4% trong tháng đó.
4: Lượng dự trữ đang cạn kiệt
Vào tháng 3, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) đã làm trung gian cho việc giải phóng lượng dự trữ dầu toàn cầu lớn nhất từ trước đến nay.
Động thái này có lẽ đã góp phần lớn nhất vào việc lấp đầy khoảng trống nguồn cung.
Trung Quốc, nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, đã sử dụng đến lượng dự trữ khổng lồ 1,4 tỷ thùng của mình và cắt giảm việc mua dầu.
Tuy nhiên, nhu cầu dầu mỏ toàn cầu vẫn vượt xa nguồn cung. Lượng dự trữ toàn cầu đang được sử dụng với tốc độ kỷ lục và hiện đang ở mức thấp nhất trong tám năm.
Vào đầu cuộc chiến cách đây 12 tuần, Trung Quốc có lượng dự trữ đủ dùng trong khoảng 82 ngày. Với việc Trung Quốc sử dụng khoảng 17 triệu thùng dầu mỗi ngày, lượng dự trữ của nước này sẽ giảm xuống gần như bằng không trong vòng 11 tuần nếu không được bổ sung.
Khi bán cầu bắc bước vào mùa hè, nhu cầu sẽ tăng lên ở các quốc gia trọng điểm. Tại Mỹ, kỳ nghỉ cuối tuần dài Ngày Tưởng niệm theo truyền thống đánh dấu sự bắt đầu của mùa cao điểm lái xe. Mặc dù hiện nay Mỹ tự sản xuất phần lớn dầu mỏ, nhưng sự tăng đột biến trong tiêu thụ nội địa có thể khiến lượng dầu xuất khẩu giảm đi.
Khủng hoảng diễn biến chậm?
Cho đến nay, cuộc khủng hoảng năng lượng năm nay được cảm nhận rõ rệt nhất ở các nước đang phát triển, nơi những hàng dài chờ mua xăng và dầu diesel đã trở nên phổ biến.
Các nước giàu có hơn đã có thể tự bảo vệ mình tốt hơn. Nhưng những biện pháp này có giới hạn. Cuộc khủng hoảng vẫn chưa kết thúc.
Theo dự báo của các nhà phân tích JP Morgan Chase, nguồn cung dầu ở các nước giàu có thể thắt chặt hơn nữa vào đầu tháng 6. Đến tháng 9, dự trữ có thể giảm xuống mức đủ thấp để gây áp lực thực sự lên nền kinh tế. Lịch sử cho thấy các quốc gia sẽ cắt giảm nhu cầu đối với các sản phẩm dầu mỏ trước khi tình hình trở nên tồi tệ đến mức đó.
Nếu xung đột kéo dài và dầu mỏ Trung Đông vẫn không được bán ra thị trường, các nước giàu sẽ không còn khả năng vượt qua được.
Nguồn: Viện Kinh tế Năng lượng & Phân tích Tài chính (IEEFA)
Nguồn tin: Xangdau.net






















