Các nhà máy lọc dầu Châu Á đang chuyển dịch chiến lược thu mua dầu thô từ việc tối ưu hóa biên lợi nhuận sang ưu tiên an ninh và sự linh hoạt của nguồn cung, trong bối cảnh các gián đoạn địa chính trị phơi bày những rủi ro của việc phụ thuộc quá nhiều vào một khu vực cung ứng đơn lẻ, các giám đốc điều hành ngành năng lượng cho biết tại hội nghị S&P Global Energy APPEC 2026 ở Singapore.
Sự chuyển dịch này đang thay đổi cách các nhà máy lọc dầu định giá dầu thô. Người mua ngày càng xem xét liệu một lô hàng có thể được giao một cách đáng tin cậy, xử lý hiệu quả, và vẫn duy trì hiệu quả kinh tế sau khi cộng cước vận tải, bảo hiểm và các rủi ro khác hay không, thay vì chỉ đánh giá dựa trên giá mua. "Dầu thô tốt nhất không phải lúc nào cũng là dầu thô rẻ nhất," ông Taejin Kim, phó chủ tịch kiêm người đứng đầu văn phòng kinh doanh dầu thô tại SK Trading International cho biết. Điều quan trọng là loại dầu thô nào có thể đến tay công ty một cách đáng tin cậy hơn, và liệu các lô hàng đó có còn mang lại hiệu quả kinh tế hay không sau khi tính đến chi phí vận tải và rủi ro thị trường, ông Kim nói.
Do đó, việc đa dạng hóa nguồn cung cũng đã chuyển từ một lợi thế cạnh tranh thành một nhu cầu bắt buộc trong khâu thu mua, theo ông Alejandro P. Gonzalez, thương mại trưởng phụ trách thu mua, thương mại và hậu cần tại Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn (Việt Nam). "Sáu tháng trước, việc thu mua dầu thô là để cải thiện biên lợi nhuận," ông Gonzalez chia sẻ. "Bây giờ, an ninh nguồn cung mới là động lực chính, còn việc tối ưu hóa phần nào biên lợi nhuận xếp ở vị trí thứ hai."
Sự chuyển dịch này thể hiện rõ rệt nhất ở các nhà máy lọc dầu Châu Á chuyên sử dụng các loại dầu thô thay thế, những đơn vị đang tìm kiếm các nguồn cung để giảm thiểu sự phụ thuộc vào các khu vực cung ứng riêng lẻ, ông cho biết.
Các chỉ số kinh tế lọc dầu ở Châu Á trước đây thường tập trung vào việc đảm bảo chủ yếu dầu chua trung (medium-sour crude) từ Trung Đông, vốn giúp tối đa hóa biên lợi nhuận. Trung Đông sẽ vẫn là nhà cung cấp cốt lõi của khu vực, nhưng các nhà máy lọc dầu đang ngày càng hướng tới lưu vực Đại Tây Dương (Atlantic basin) nhằm giảm thiểu rủi ro nguồn cung.
"Trung Đông vẫn là nền tảng, nhưng các nhà máy lọc dầu Châu Á đang kỳ vọng nhiều hơn vào các nguồn cung từ lưu vực Đại Tây Dương," ông Desikan Sundararajan, phó chủ tịch kiêm người đứng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của tập đoàn lọc dầu quốc doanh Na Uy Equinor cho biết.
Các loại dầu của Mỹ, Mỹ Latinh và Tây Phi đang dần trở thành các thành phần thường xuyên hơn trong rổ dầu thô của Châu Á thay vì chỉ là các lô hàng kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) mang tính thời vụ. Dầu nặng của Canada cũng đang thu hút sự quan tâm mạnh mẽ, được hỗ trợ bởi dự án mở rộng đường ống dẫn dầu Trans Mountain và nhu cầu tại bờ tây nước Mỹ đang suy giảm khi công suất lọc dầu khu vực đóng cửa.
Ví dụ, các nhà máy lọc dầu Nhật Bản hiện đang lấy hơn một nửa lượng dầu thô từ Mỹ, trong khi công ty Taiyo Oil đã tăng lượng thu mua dầu thô từ Mỹ thêm 20% kể từ khi chiến tranh bùng nổ, giám đốc điều hành công ty, ông Takahiro Yamamoto cho biết.
Sự không tương thích về phẩm cấp và biên lợi nhuận
Tuy nhiên, các loại dầu thô thay thế có thể khác biệt đáng kể so với dầu chua trung Trung Đông vốn là tiêu chuẩn thiết kế ban đầu cho nhiều nhà máy lọc dầu Châu Á. Dầu thô nhẹ của Mỹ và dầu nặng của Mỹ Latinh hoặc Canada không nhất thiết có thể thay thế trực tiếp, điều này có khả năng đòi hỏi các nhà máy lọc dầu phải phối trộn nhiều loại dầu thô với nhau nhằm bảo vệ sản lượng thu hồi (yields) và sự ổn định vận hành.
Biên lợi nhuận lọc dầu cũng đang thay đổi cách người mua tính toán chi phí gián đoạn nguồn cung. Với biên lợi nhuận lọc dầu ở mức hai chữ số vững chắc đối với hầu hết các sản phẩm dầu mỏ, chi phí cơ hội của một lô hàng bị trì hoãn hoặc bị bỏ lỡ có thể vượt xa mức phụ phí (premium) phải trả cho một nguồn cung đáng tin cậy hơn. Việc không đảm bảo được nguồn nguyên liệu thay thế có thể buộc các nhà máy lọc dầu phải giảm công suất vận hành và từ bỏ các khoản biên lợi nhuận đáng kể.
Việc đa dạng hóa dầu thô cũng phụ thuộc vào việc nhà máy lọc dầu đó có kinh nghiệm xử lý các loại dầu thay thế hay không. Do đó, khả năng tương thích trong quá trình xử lý cũng đang trở thành một thành phần quan trọng hơn trong giá trị của dầu thô. Các loại dầu có thể dễ dàng phối trộn với các nguồn cung cấp khác mang lại sự linh hoạt vận hành lớn hơn khi các dòng chảy thông thường bị gián đoạn.
Dự trữ dầu mỏ chiến lược có thể cung cấp từ một đến ba tháng nguồn cung trong thời gian xảy ra gián đoạn, nhưng để đa dạng hóa thực sự đòi hỏi phải có kinh nghiệm xử lý các loại dầu thay thế trong điều kiện vận hành bình thường, ông Yamamoto cho biết.
Các nhà máy lọc dầu phải hiểu rõ các loại dầu lạ ảnh hưởng như thế nào đến thiết bị, sản lượng thu hồi và hoạt động của nhà máy trước khi họ bắt buộc phải dùng đến chúng trong tình huống khủng hoảng. Việc không thử nghiệm các nguồn cung thay thế có thể khiến các nhà máy đối mặt với các sự cố vận hành hoặc phải đóng cửa ngoài kế hoạch nếu các dòng chảy dầu thô thông thường bị gián đoạn.
Các nhà máy lọc dầu cũng đang đánh giá cao hơn đối với các điều khoản giao hàng linh hoạt, các thỏa thuận vận tải và điều khoản về cảng đến. Một lô hàng thoạt nhìn có vẻ đắt đỏ hơn có thể trở nên có tính cạnh tranh nếu nó giúp tránh được tuyến đường có rủi ro cao, đến nơi sớm hơn, hoặc có thể được chuyển hướng đến các điểm đến khác khi điều kiện thị trường thay đổi.
Các giám đốc điều hành cho biết việc thu mua có khả năng chống chịu tốt sẽ đòi hỏi sự kết hợp giữa các hợp đồng dài hạn và các giao dịch mua ngay (spot purchases). Các thỏa thuận có kỳ hạn mang lại sự chắc chắn về nguồn cung, trong khi các giao dịch mua ngay duy trì tính linh hoạt khi giá dầu thô, chi phí vận tải biển và kinh tế lọc dầu biến động. Các nhà máy lọc dầu Châu Á đang ngày càng cân nhắc các thỏa thuận đa năm, mặc dù những thỏa thuận này phải được cân đối với tính linh hoạt của thị trường giao ngay và một phạm vi rộng hơn về nguồn gốc cung ứng, ông Sundararajan nói.
Ngày càng có nhiều hiệp định thương mại song phương đang mở ra các tuyến đường thương mại phi truyền thống. Việc Equinor mới đây giao một lô hàng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Na Uy cho Ấn Độ cho thấy các khuôn khổ thương mại mới có thể hỗ trợ các dòng chảy vốn trước đây kém cạnh tranh về mặt thương mại như thế nào, ông Sundararajan cho biết.
Trong khi đó, các chính phủ trong khu vực phải quyết định xem có nên hướng nguồn vốn vào việc mở rộng kho dự trữ dầu mỏ chiến lược—vốn cung cấp một vùng đệm tức thời chống lại sự gián đoạn—hay hỗ trợ sản xuất thượng nguồn trong nước nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu trong dài hạn.
Đối với các nhà máy lọc dầu Châu Á, giá trị của một lô hàng dầu thô ngày càng phụ thuộc vào việc liệu nó có thể được giao an toàn, chế biến hiệu quả, chuyển hướng khi cần thiết và được thay thế khi xảy ra gián đoạn hay không, hội đồng thảo luận kết luận.
Nguồn tin: Xangdau.net





















