Giá dầu đã giảm mạnh so với mức cao gần đây, cho thấy thị trường đã lạc quan khi định giá khả năng mở cửa trở lại một phần eo biển Hormuz và bình thường hóa quan hệ sau những tuyên bố tích cực từ phía Mỹ.
Theo các nhà phân tích hàng hóa tại Standard Chartered, những tuyên bố này đã vấp phải sự bán tháo mạnh mẽ từ các thuật toán bất chấp những thông điệp trái ngược từ Mỹ và Iran, khi Washington vẫn duy trì lập trường hung hăng, thắt chặt cán cân thương mại và tích lũy lượng dầu bị mất. Dầu Brent giao tháng 7 giảm 0,6% xuống còn 93,73 USD/thùng lúc 13:40 chiều giờ ET, giảm hơn 12 USD/thùng so với mức cao nhất trong ngày thứ Sáu là 106,13 USD/thùng. Giá dầu vẫn chủ yếu bị chi phối bởi các tin tức, chịu ảnh hưởng từ sự leo thang và giảm leo thang của xung đột Mỹ-Iran trong ngắn hạn. Tuy nhiên, một yếu tố tiềm ẩn khác đang đẩy giá dầu xuống thấp hơn – đó là sự gia tăng mạnh mẽ xuất khẩu. Xuất khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ của Mỹ gần đây đã tăng vọt lên mức kỷ lục mọi thời đại, đạt gần 12,9 triệu thùng mỗi ngày (bpd), do việc sử dụng mạnh mẽ nguồn dự trữ dầu mỏ chiến lược (SPR). Mức trung bình bốn tuần liên tiếp cũng đạt mức cao kỷ lục 5,57 triệu thùng/ngày trong tuần kết thúc ngày 15 tháng 5.
Mỹ trên thực tế đã trở thành nhà cung cấp dầu thô cuối cùng của thế giới, với xuất khẩu dầu thô đạt mức kỷ lục 6,4 triệu thùng/ngày trong một thời gian ngắn. Một đội tàu chở dầu khổng lồ tiếp tục vận chuyển dầu đến châu Âu và châu Á, nơi các quốc gia đang tìm kiếm các nguồn thay thế cho dầu mỏ Trung Đông sau khi eo biển Hormuz bị phong tỏa. Để giúp bù đắp sự thiếu hụt toàn cầu, Mỹ đã cam kết giải phóng 172 triệu thùng dầu theo hình thức cho vay, với lượng giải phóng mỗi tuần đạt đỉnh điểm gần 10 triệu thùng. Dữ liệu từ Kpler cho thấy khoảng một nửa lượng dầu thô được giải phóng từ kho dự trữ khẩn cấp trong những tháng gần đây đã được xuất khẩu trực tiếp chứ không phải được tinh chế trong nước. Người mua nước ngoài, đặc biệt là ở châu Âu và châu Á, đã tích cực mua khoảng 40 đến 50% lượng dầu thô được giải phóng từ kho dự trữ khẩn cấp của Mỹ.
Tuy nhiên, có một giới hạn rõ ràng đối với việc bán ồ ạt này: mặc dù chiến lược này đã tạm thời giúp kiềm chế sự tăng giá đột biến, các nhà phân tích cảnh báo rằng khả năng dự trữ này là hữu hạn. Một khi lượng dự trữ khẩn cấp này cạn kiệt, thị trường dầu mỏ toàn cầu có thể phải đối mặt với áp lực tăng giá trở lại. Cụ thể, sự gia tăng xuất khẩu liên tục đồng nghĩa với việc dự trữ thương mại và khẩn cấp của Mỹ đang giảm với tốc độ nhanh chóng. Thực tế, tổng lượng dự trữ trong Kho dự trữ dầu chiến lược (SPR) đã giảm mạnh xuống còn khoảng 365 triệu thùng - mức thấp nhất kể từ giữa tháng 4 năm 2024. Lượng tồn kho dầu thô của Mỹ đã giảm 7,88 triệu thùng/tuần (giảm 9,09 triệu thùng so với mức trung bình 5 năm), đưa tổng lượng tồn kho dầu thô xuống còn 445,01 triệu thùng, thấp hơn 10,28 triệu thùng so với mức trung bình 5 năm và là tuần giảm thứ tư liên tiếp. Lượng tồn kho xăng của Mỹ đang ở mức thấp nhất trong gần 6 tháng, khoảng 214,16 triệu thùng và thấp hơn mức trung bình 5 năm. Lượng tồn kho nhiên liệu chưng cất cũng giảm và hiện ở mức 102,91 triệu thùng.
Việc rút bớt lượng lớn dự trữ đang nhanh chóng làm xói mòn lớp đệm an toàn của đất nước trước mùa cao điểm lái xe mùa hè. Sự sụt giảm nhanh chóng cả dự trữ thương mại và dự trữ khẩn cấp đã khiến các nhà phân tích tranh luận về khả năng Mỹ hạn chế xuất khẩu để bảo vệ nguồn cung trong nước và giảm giá xăng dầu.
Nhìn xa hơn, StanChart dự đoán rằng thị trường dầu mỏ có khả năng trải qua “tình trạng dễ bị tổn thương dai dẳng” ngay cả khi việc vận chuyển qua eo biển được nối lại hoàn toàn. Tình trạng này sẽ nghiêm trọng hơn đối với dầu Brent so với dầu WTI, hỗ trợ chênh lệch giá giao ngay mạnh mẽ. Thực tế, dầu thô Brent và dầu thô WTI gần đây đã di chuyển theo hướng ngược nhau chủ yếu do các cuộc tấn công quân sự gần đây của Mỹ vào các mục tiêu của Iran. Brent đóng vai trò là chuẩn mực toàn cầu và rất nhạy cảm với rủi ro vận chuyển hàng hải ở Trung Đông. Các cuộc tấn công mới của Mỹ vào các địa điểm đặt tên lửa và tài sản hải quân của Iran đe dọa trực tiếp đến giao thông qua eo biển Hormuz. Điều này làm tăng chi phí bảo hiểm và vận chuyển hàng hóa đối với dầu thô vận chuyển bằng đường biển, đẩy giá Brent tăng vọt. Ngược lại, dầu thô West Texas Intermediate (WTI) phản ánh nguồn cung trong nước của Mỹ, phần lớn không bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn vận chuyển ngay lập tức ở Vịnh Ba Tư.
Trong bối cảnh Mỹ và Iran đang đàm phán về việc gia hạn lệnh ngừng bắn mong manh, hai chỉ số chuẩn này diễn giải những thay đổi ngoại giao theo những cách khác nhau. Các nhà giao dịch dầu Brent định giá cao rủi ro về nguồn cung vật chất ngay lập tức nếu thỏa thuận thất bại. Dầu WTI phản ứng mạnh mẽ hơn với những kỳ vọng dựa trên các tin tức về các biện pháp can thiệp chính sách tiềm năng của chính phủ, chẳng hạn như việc giải phóng Kho dự trữ dầu chiến lược (SPR) hoặc các giới hạn xuất khẩu được thiết kế để giữ dầu của Mỹ trong nước.
Trong khi đó, thị trường khí đốt tự nhiên tiếp tục ứng phó khá tốt với sự thiếu hụt nguồn cung khí đốt từ phần lớn khu vực Trung Đông trong ngắn hạn. Sự gián đoạn đối với khí hóa lỏng (LNG) của Qatar (với thiệt hại đối với hai trong số 14 dây chuyền LNG tại Ras Laffan và tình trạng bất khả kháng) cũng như các lô hàng LNG của UAE đang được bù đắp phần nào bởi sự tăng trưởng nguồn cung LNG dự kiến vào năm 2026, đáng chú ý nhất là từ Mỹ. StanChart dự đoán rằng giá có thể giảm đáng kể so với mức hiện tại khi tình trạng bất khả kháng được dỡ bỏ. Giá khí đốt của Mỹ gần đây đã tăng mạnh, do sản lượng thấp hơn và dòng chảy LNG cao hơn. Giá khí đốt Henry Hub đã tăng 7,6% lên giao dịch ở mức 3,27 USD/MMBtu trong phiên giao dịch nội bộ ngày thứ Năm, mức cao nhất kể từ tháng Hai. StanChart dự báo giá sẽ tăng lên khoảng 4 USD/MMBtu vào cuối năm, do nhu cầu trung hạn về phát điện cho trung tâm dữ liệu, sưởi ấm/làm mát và xuất khẩu LNG.
Nguồn tin: Xangdau.net




















