Mỹ đang tìm cách tăng cường xuất khẩu dầu thô và khí đốt tự nhiên sang Ấn Độ - quốc gia phụ thuộc nhập khẩu nhiều nhất thế giới. Do đó, Ấn Độ là một miếng mồi ngon cho bất kỳ quốc gia sản xuất nào có lượng dầu dư thừa. Tuy nhiên, có một lý do khiến Mỹ chưa phải là nhà cung cấp chính cho tiểu lục địa này - đơn giản là có quá nhiều trở ngại trên con đường này.
Tuần trước, Đại sứ Washington tại New Delhi, Sergio Gor, cho biết trên kênh X rằng ông đã gặp Bộ trưởng Năng lượng Ấn Độ, Hardeep Singh Puri, để thảo luận về việc “Mở rộng khả năng tiếp cận nguồn năng lượng đáng tin cậy của Mỹ, điều này sẽ làm sâu sắc thêm mối quan hệ kinh tế của chúng ta và hỗ trợ an ninh năng lượng dài hạn và đa dạng hóa cho cả hai quốc gia”.
Mỹ chiếm khoảng 9% lượng dầu nhập khẩu của Ấn Độ, dựa trên số liệu năm 2024. Mức trung bình hàng ngày trong năm đó là 158.000 thùng, trái ngược với 1,754 triệu thùng mỗi ngày từ Nga và 1,005 triệu thùng mỗi ngày mà Ấn Độ nhập khẩu từ Iraq. Và giờ đây, Ấn Độ đã bắt đầu mua dầu thô của Iran sau bảy năm tạm ngừng, đây là dấu hiệu mới nhất cho thấy Mỹ sẽ khó có thể thay đổi cục diện nhập khẩu năng lượng hiện tại của Ấn Độ.
Just how tough it would be was made clear earlier this month, when the United States was forced to issue sanction waivers for both Iranian and Russian crude to ease the effect of the supply crunch caused by the war that the U.S. and Israel began against Iran on February 28. Being as heavily dependent on imported energy as India is, the impact was severe, prompting the U.S. to act to preserve bilateral relations that came under strain last year already amid President Trump’s tariff offensive and then the additional levies he slapped on India for buying Russian oil.
Mức độ khó khăn đã được thể hiện rõ ràng vào đầu tháng này, khi Mỹ buộc phải miễn trừ trừng phạt đối với dầu thô của Iran và Nga để giảm bớt ảnh hưởng của tình trạng thiếu hụt nguồn cung do cuộc chiến mà Mỹ và Israel phát động chống lại Iran vào ngày 28 tháng 2 gây ra. Với sự phụ thuộc nặng nề vào năng lượng nhập khẩu như Ấn Độ, tác động rất nghiêm trọng, khiến Mỹ phải hành động để duy trì mối quan hệ song phương vốn đã căng thẳng vào năm ngoái trong bối cảnh chiến dịch áp thuế của Tổng thống Trump và sau đó là các khoản thuế bổ sung mà ông áp đặt lên Ấn Độ vì mua dầu của Nga.
Tuy nhiên, hiện nay Ấn Độ cũng đang mua nhiều dầu của Nga hơn, cùng với dầu của Iran, với sự chấp thuận của Mỹ. Washington thậm chí còn gia hạn miễn trừ trừng phạt đối với dầu của Nga vài ngày sau khi ra tín hiệu rằng họ sẽ không gia hạn như vậy. Câu hỏi đặt ra, tất nhiên, là tại sao không chỉ cung cấp cho Ấn Độ nhiều dầu của Mỹ hơn.
Lý do đầu tiên là giá cả. Hầu hết dầu khí nhập khẩu của Ấn Độ đến từ Trung Đông vì vị trí địa lý thuận lợi, cụ thể là sự gần gũi với tiểu lục địa, đảm bảo chi phí vận chuyển thấp hơn. Cũng chính vì lý do đó mà nhập khẩu từ Nga đã tăng mạnh kể từ năm 2022, cùng với mức chiết khấu đáng kể mà các nhà xuất khẩu Nga buộc phải bán dầu của họ do các lệnh trừng phạt của phương Tây.
Tuy nhiên, đầu năm nay, trước khi chiến tranh ở Trung Đông bắt đầu, Ấn Độ đã hứa sẽ mua khoảng 500 tỷ đô la hàng hóa, bao gồm “năng lượng, công nghệ thông tin và truyền thông, than đá và các sản phẩm khác của Mỹ”. Lời hứa này, dường như, vẫn chưa được hiện thực hóa, dựa trên những nỗ lực của Đại sứ Gor nhằm thuyết phục chính phủ Ấn Độ bắt đầu mua nhiều năng lượng hơn từ Mỹ.
Giá cả là mối quan ngại hàng đầu của Ấn Độ khi nói đến nhập khẩu năng lượng, chiếm hơn 85% nhu cầu. Chính vì giá cả mà nhập khẩu dầu thô của Ấn Độ đã giảm 15%, nhưng nhập khẩu dầu của Nga lại tăng vọt 90% sau khi lệnh trừng phạt được miễn trừ. Cũng chính vì giá cả mà Ấn Độ đã quay trở lại mua dầu thô của Iran, nguồn cung được cung cấp nhờ lệnh miễn trừ trừng phạt khác mà Washington ban hành. Cuối cùng, cũng chính vì giá cả mà tập đoàn năng lượng nhà nước ONGC của Ấn Độ đã tuyên bố vào tháng 3 rằng họ sẽ đầu tư từ 18 đến 20 tỷ đô la vào việc khoan dầu khí mới để tăng cường an ninh năng lượng của đất nước. Tuy nhiên, vẫn chưa có thông tin nào về việc tăng cường nhập khẩu từ Mỹ một cách đáng kể.
Tuần trước, CNBC đưa tin rằng, ngoài giá cả, một lý do khác khiến Mỹ khó có thể trở thành nhà cung cấp năng lượng chính cho Ấn Độ là cấu hình nhà máy lọc dầu. Hầu hết dầu thô của Mỹ là loại nhẹ và ngọt, trong khi các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ được cấu hình để tối đa hóa sản xuất dầu diesel, vốn yêu cầu các loại dầu nặng hơn và có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn. Thêm vào đó là yếu tố giá cả, và rõ ràng là chỉ có một số hình thức giảm giá lớn mới có thể thúc đẩy nhu cầu mua dầu của Mỹ từ phía người mua Ấn Độ - một điều rất khó xảy ra trong các công ty tư nhân trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu khan hiếm.
Tuy nhiên, đối với khí đốt, mọi chuyện có thể khác. Ấn Độ là một nước nhập khẩu lớn khí tự nhiên hóa lỏng, khí dầu mỏ hóa lỏng, etan và propan. Mỹ có rất nhiều các loại khí này và đang rất muốn xuất khẩu thêm. Với việc xuất khẩu khí đốt từ Trung Đông bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, Mỹ là một lựa chọn thay thế tự nhiên cho các loại nhiên liệu mà Ấn Độ tiêu thụ với khối lượng đáng kể. Tuy nhiên, một lần nữa, giá cả sẽ là vấn đề, như một nhà phân tích của Rystad Energy đã lưu ý trên CNBC rằng “Mỹ có thể trở thành đối tác tự nhiên” của Ấn Độ trong lĩnh vực LPG và LNG, nhưng cũng nói thêm rằng điều này sẽ đòi hỏi phải có những khoản giảm giá.
Việc thúc đẩy xuất khẩu năng lượng sang các nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, bằng cách này hay cách khác, là trọng tâm trong kế hoạch thống trị năng lượng của chính quyền Trump. Tuy nhiên, sự thúc đẩy này chỉ có thể xảy ra nếu người mua có động lực mạnh mẽ để mua nhiều dầu khí của Mỹ hơn, chẳng hạn như giảm giá hoặc tình trạng khan hiếm nguồn cung làm hạn chế các lựa chọn. Tuy nhiên, tình hình với Ấn Độ chứng minh rằng tình trạng khan hiếm nguồn cung không hiệu quả như mong đợi.
Nguồn tin: Xangdau.net






















