Chính quyền độc tài của Venezuela, do Tổng thống lâm thời Delcy Rodriguez lãnh đạo, gần đây đã tuyên bố tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết để tư nhân hóa ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela, qua đó chấm dứt thế độc quyền của PDVSA. Điều này phù hợp với yêu cầu của Tổng thống Mỹ Donald Trump và diễn ra vào thời điểm Washington đang nới lỏng các hạn chế giao dịch với Venezuela. Mặc dù vẫn còn nhiều câu hỏi về việc liệu Venezuela có phải là điểm đến đầu tư hấp dẫn đối với các công ty năng lượng nước ngoài hay không, đây là một bước tiến lớn theo đúng hướng, loại bỏ một mối lo ngại chính đối với các tập đoàn dầu khí lớn. Tuy nhiên, vẫn còn những rủi ro đáng kể cần được giải quyết, đáng chú ý nhất là tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Venezuela.
Sau khi Tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro, và vợ ông, Cilia Flores, bị lực lượng Mỹ bắt giữ hồi tháng trước trong một cuộc đột kích táo bạo vào ban đêm ở Caracas, Washington đã tiến hành khôi phục quan hệ thương mại với quốc gia gần như sụp đổ này. Ông Trump đã nói rõ với Delcy Rodriguez và các nhà lãnh đạo chế độ còn lại rằng họ phải tuân thủ chỉ thị từ Nhà Trắng hoặc đối mặt với kết cục tồi tệ hơn cả Maduro. Một ưu tiên quan trọng của Nhà Trắng là mở cửa lại ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela cho đầu tư nước ngoài khi ông Trump tích cực thu hút các tập đoàn năng lượng lớn đầu tư vào quốc gia gần như thất bại này.
Trong một cuộc gặp với ông Trump hồi tháng trước, Darren Woods, Giám đốc điều hành của ExxonMobil, công ty dầu khí lớn thứ hai thế giới được niêm yết công khai, đã gọi Venezuela là một quốc gia không thể đầu tư. Ông Woods tiếp tục nói: "Cần phải có những thay đổi đáng kể đối với các khuôn khổ thương mại đó, hệ thống pháp luật," ông nói thêm. "Cần có sự bảo vệ bền vững cho các nhà đầu tư, và cần phải có sự thay đổi trong luật về hydrocarbon của nước này." Trong khi đó, các CEO khác lại có quan điểm tích cực hơn, mặc dù chưa có cam kết đầu tư nào được đưa ra.
Sự dè dặt của CEO Exxon rất dễ hiểu. Khi Hugo Chavez quốc hữu hóa các tài sản dầu khí do nước ngoài kiểm soát vào năm 2007, điều này đã khiến các công ty năng lượng nước ngoài thiệt hại hàng tỷ đô la, với Exxon tuyên bố lỗ 16,6 tỷ đô la. Đây là một bước ngoặt đối với ngành hydrocarbon của Venezuela, khiến sự xuống cấp của ngành này tăng tốc khi đầu tư giảm mạnh và lao động lành nghề rời bỏ đất nước. Thông báo mới nhất của Caracas đã phần nào giải quyết được những lo ngại mà Woods nêu ra. Nếu một khung pháp lý phù hợp có thể được thực hiện và nguy cơ quốc hữu hóa hoặc sự can thiệp mạnh tay của Caracas được loại bỏ, sẽ có động lực lớn hơn cho các công ty dầu khí nước ngoài đầu tư vào Venezuela.
Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng dầu khí lạc hậu của Venezuela, cùng với chi phí sản xuất cao và mức chiết khấu lớn áp dụng cho dầu thô nặng vẫn là một trở ngại. Mặc dù giá hòa vốn trung bình của Venezuela được ước tính thấp nhất là 42 đến 56 đô la một thùng, nhưng thực tế lại cao hơn. Đối với Vành đai Orinoco, khu vực sản xuất dầu chính của đất nước. Vành đai Orinoco chiếm khoảng 80% tổng sản lượng dầu của Venezuela và chứa một phần đáng kể trong trữ lượng 303 tỷ thùng dầu của quốc gia. Các con số có thể khác nhau, nhưng các cơ sở đang hoạt động trong Vành đai Orinoco hòa vốn ở mức 49,26 đô la/thùng, và tăng lên 80 đô la/thùng đối với các dự án mới hoặc những dự án cần tân trang.
Với giá dầu Brent giao dịch ở mức khoảng 67 đô la/thùng, việc chi hàng tỷ đô la vốn để khai thác dầu thô siêu nặng, cực kỳ chua của Vành đai Orinoco không mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Điều này đặc biệt đúng khi xét đến việc dầu nặng của Venezuela được bán với giá rất thấp so với chuẩn dầu Brent toàn cầu. Loại dầu xuất khẩu chủ yếu của Venezuela được gọi là Merey. Đây là loại dầu thô nặng có độ API 15 độ và hàm lượng lưu huỳnh trên 2%. Merey là hỗn hợp của dầu thô siêu nặng từ Vành đai Orinoco và dầu nhẹ ngọt Santa Barbara.
Chất pha loãng là cần thiết để nâng cấp dầu siêu nặng. Dầu thô Orinoco, khi được khai thác, là một chất giống như nhựa đường có độ nhớt cao, chứa đầy các chất gây ô nhiễm như vanadi và niken, về cơ bản là không thể bán được. Để làm cho dầu mỏ dễ vận chuyển và bán được, chất giống như nhựa đường này được trộn với dầu mỏ nhẹ như dầu thô Santa Barbara, chất ngưng tụ hoặc naphtha. Điều này không chỉ làm giảm độ nhớt để dầu chảy mà còn làm giảm nồng độ các chất gây nguy hiểm tiềm tàng như lưu huỳnh, kim loại và các chất gây ô nhiễm khác.
Dầu thô Santa Barbara là một loại dầu nhẹ, ngọt được khai thác từ mỏ dầu Santa Barbara trên đất liền của Venezuela. Loại dầu này có độ API là 39 với hàm lượng lưu huỳnh là 0,48%. Những đặc điểm đó làm cho dầu Santa Barbara trở thành chất pha loãng lý tưởng cho dầu mỏ siêu nặng được khai thác ở Vành đai Orinoco. Trên thực tế, việc chuyển hướng sản lượng dầu Santa Barbara, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng của Venezuela, từ các nhà máy lọc dầu xuống cấp để sử dụng làm chất pha loãng là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng thiếu xăng trên toàn quốc, bắt đầu từ năm 2017.
Sản lượng dầu nhẹ của Venezuela giảm mạnh do thiếu đầu tư vào khai thác mỏ và bảo trì giếng khoan, tình trạng này càng trầm trọng hơn do Washington tăng cường các lệnh trừng phạt. Tình trạng thiếu hụt dầu nhẹ và condensate lâu nay là nguyên nhân chính khiến sản lượng dầu mỏ của Venezuela giảm xuống mức thấp lịch sử là 500.000 thùng mỗi ngày trong năm 2020. Thực tế, chỉ đến khi Tehran bắt đầu vận chuyển condensate đến Venezuela thì công ty dầu khí nhà nước PDVSA mới có thể tăng sản lượng một cách ổn định. Khi giấy phép khai thác dầu khí của Chevron tại Venezuela được khôi phục, tập đoàn dầu khí lớn này bắt đầu nhập khẩu naphtha của Mỹ để nâng cấp dầu nặng do các hoạt động của mình sản xuất ra, vì các hạn chế của Bộ Tài chính ngăn cấm sử dụng các sản phẩm của Iran.
Dầu mỏ trong Vành đai Orinoco rất khó và tốn kém để khai thác. Cần có các kỹ thuật và thiết bị đặc biệt để khai thác chất lỏng siêu nặng, có độ nhớt cao, giống như nhựa đường. Điều này làm tăng thêm chi phí khai thác, giúp giải thích tại sao dầu mỏ được sản xuất trong Vành đai Orinoco có giá hòa vốn cao. Vấn đề này trở nên phức tạp hơn khi nói đến việc xử lý và tinh chế loại dầu mỏ này, đặc tính đậm đặc của dầu nặng, cùng với hàm lượng lưu huỳnh cao và lượng lớn chất gây ô nhiễm, đòi hỏi thiết bị chuyên dụng, bao gồm các thiết bị cracking xúc tác lỏng, thiết bị cốc hóa chậm, thiết bị thu hồi lưu huỳnh và thiết bị lọc amin.
Đặc tính phức tạp và chi phí gia tăng liên quan đến việc tinh chế dầu thô nặng, bao gồm dầu Merey, khiến nó được giao dịch với mức chiết khấu đáng kể so với chuẩn Brent quốc tế. Theo dữ liệu của OPEC năm 2025, giá trung bình của Merey là 56,68 USD/thùng, với mức chiết khấu trung bình hàng năm so với Brent là 12,28 USD/thùng, trong khi giá trung bình của Brent là 69,14 USD/thùng. Mặc dù việc dỡ bỏ lệnh trừng phạt của Mỹ sẽ thúc đẩy giá Merey, hỗn hợp dầu thô vẫn dự kiến sẽ giao dịch ở mức chiết khấu khoảng 10 đô la/thùng so với dầu Brent. Khi xem xét mức chiết khấu đáng kể này và giá hòa vốn cao, thật khó để thấy các công ty năng lượng quốc tế có thể đầu tư sinh lời vào hoạt động khai thác dầu nặng ở Vành đai Orinoco.
Bất chấp những khó khăn này, tập đoàn dầu khí lớn của Mỹ Chevron, một trong số rất ít các công ty năng lượng nước ngoài vẫn đang hoạt động tại Venezuela, có kế hoạch mở rộng sản lượng tại năm mỏ dầu mà họ nắm giữ cổ phần. Chevron, công ty đã hoạt động tại Venezuela từ năm 1923, là công ty khoan dầu của Mỹ có vị thế tốt nhất để thu lợi từ việc mở cửa trở lại ngành công nghiệp dầu mỏ của nước này. Sau khi báo cáo lợi nhuận quý IV năm 2025 vượt kỳ vọng vào tuần trước, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Chevron, Mike Wirth, cho biết công ty sẽ mở rộng sản lượng tại Venezuela.
Trong cùng cuộc họp báo đó, Giám đốc tài chính của Chevron, Eimear Bonner, cho biết thêm rằng công ty có thể tăng sản lượng tại Venezuela lên tới 50% trong vòng 18 tháng đến 2 năm tới. Hiện tại, Chevron đang khai thác 250.000 thùng dầu mỗi ngày tại Venezuela, điều này có nghĩa là tập đoàn dầu khí lớn có trụ sở tại Houston này có thể sản xuất tới 375.000 thùng mỗi ngày vào năm 2028. Ông Wirth gần đây cho biết Chevron có công suất 100.000 thùng mỗi ngày tại các nhà máy lọc dầu ở Mỹ, được thiết kế đặc biệt để xử lý dầu thô nặng của Venezuela.
Cam kết này được đưa ra bất chấp lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của Chevron trong quý IV năm 2025 giảm đáng kể so với quý trước và cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Chevron dự định tài trợ cho sự tăng trưởng sản lượng này bằng cách đầu tư tiền thu được từ việc bán dầu để phát triển các hoạt động hiện có thay vì đầu tư thêm vốn mới vào quốc gia này. Cách tiếp cận thận trọng đó càng cho thấy các công ty dầu khí, ngay cả các tập đoàn dầu khí lớn, cũng ngần ngại đầu tư hàng trăm tỷ đô la vốn khổng lồ cần thiết để vực dậy ngành công nghiệp dầu khí của Venezuela.
Nguồn tin: xangdau.net




















